Đoàn thuyền đánh cá là một bài ca lao động hứng khởi, hào hùng. Nhà thơ ca ngợi biển cả mênh mông – nguồn tài nguyên bất tận của Tổ quốc, ca ngợi những con người lao động cần cù, gan góc, ngày đêm làm giàu cho đất nước. Cảm hứng trữ tình của Huy Cân và nghệ thuật điêu luyện của ông đã cuốn hút người đọc thực sự
Khái quát chung về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá
Xuất xứ
Bài thơ được in trong tập Trời mỗi ngày lại sáng (1958).
Hoàn cảnh sáng tác
Bài thơ được viết vào năm 1958, khi đất nước đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng và đi vào xây dựng cuộc sống mới trong không khí hào hứng, phấn chấn, tin tưởng. Chuyến đi thực tế vài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh vào nửa cuối năm 1958 đã thấy nhà thơ thấy rõ cuộc sống lao động ấy của nhân dân ta, góp phần mở chặng đường mới cho thơ Huy Cận. Bài thơ là kết quả của chuyến đi thực tế đó.
Thể thơ và bố cục
- Thể thơ: Bảy chữ
- Bố cục: Bài thơ được bố cục hành hình theo một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá.
- Hai khổ đầu: cảnh ra khơi và tâm trạng náo nức của con người.
- Bốn khổ tiếp: cảnh hoạt động của đoàn thuyền đánh cá giữa khung cảnh biển trời đêm.
- Khổ cuối: cảnh đoàn thuyền trở về trong cảnh bình minh lên.
Hành trình của buổi lao động của đoàn thuyền đánh cá nhịp với nhịp tuần hoàn của vũ trụ từ lúc hoàng hôn đến bình minh.
Đặc điểm nội dung, nghệ thuật
- Bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi lao động tập thể và người lao động trong khung cảnh thiên nhiên đất nước giàu đẹp.
- Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng tưởng tượng phong phú, độc đáo; có âm hưởng khỏe khoắn, hào hùng, lạc quan.
Định hướng tiếp cận bài thơ
Khúc hát ra khơi
- Thời điểm đoàn thuyền ra khơi thật đặc biệt – vào lúc hoàng hôn xuống trên biển cả: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa – Sóng đã cài then, đêm sập cửa”. Các hình ảnh so sánh, nhân hóa, ẩn dụ khiến vũ trụ được hình dung như một ngôi nhà lớn đang vào đêm với động tác như con người: tắt lửa, cài then, sập cửa. Màn đêm là tấm cửa khổng lồ, những lượn sóng là then cài. Thiên nhiên như dọn dẹp chuẩn bị nghỉ ngơi sau một chu trình hoạt động.
- Ngược lại con người lại bắt đầu cuộc lao động rất hào hứng: “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi – Câu hát căng buồm với gió khơi”.Sự đối lập về hình ảnh và nhạc điệu ở hai câu đầu với hai câu sau nói lên khí thế và nhiệt tình của người lao động: khẩn trương làm việc không quản ngày đêm làm giàu cho quê hương đất nước. Chữ “lại” vừa tạo sự đối lập, vừa gợi thế chủ động của con người và cho biết đoàn thuyền vẫn thường đi như thế, không phải lần đầu. Mặc dù vậy, khí thế vẫn hăm hở, náo nức, cất lên thành khúc hát. Đó là không khí tập thể tưng bừng, cả một đoàn thuyền tấp nập nối đuôi nhau ra khơi. Người lao động hát vang bài tiến quân ca ra biển cả. Cách nói ẩn dụ gợi câu hát cũng như tạo nên sức mạnh vật chất, góp gió căng buồm, đẩy thuyền ra khơi. Câu thơ gắn kết ba sự vật và hiện tượng: cánh buồm, gió khơi và câu hát, tạo nên hình ảnh vừa thực, vừa lãng mạn, khỏe và lạ. Tâm tư người đánh cá gửi gắm trong bài hát: phấn khởi, say mê công việc và sự giàu đẹp của biển quê hương. Lời ca của họ có “muôn luồng sáng” tỏa giữa biển đêm:
Hát rằng: cá bạc biển đông lặng
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
Khúc ca đánh cá trên biển
- Tài quan sát tinh tế cùng cảm hứng lãng mạn giúp tác giả phát hiện những vẻ đẹp của cảnh đánh cá trên biển trong đêm trăng, với niềm vui phơi phới, khỏe khoắn của người lao động khi đã làm chủ cuộc đời, làm chủ biển trời quê hương. Cảm hứng của tác giả men theo hành trình buổi lao động mà bộc lộ, qua đó cảnh đánh cá hiện lên thật hào hùng và lãng mạn.
- Khổ ba là cảnh đoàn thuyền lướt sóng ra khơi, tìm luồng cá, bủa lưới vây giăng mang vẻ đẹp vừa hùng tráng vừa thơ mộng:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò sóng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng
Con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé trước biển trời bao la đã trở thành con thuyền kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ, gió trời là người lái, trăng trời lá cánh buồm – buồm đẫm ánh trăng đã trở thành “buồm trăng”. Chủ nhân của con thuyền – người đánh cá cũng trở nên lồng lộng giữa biển trời, trong tư thế làm chủ. Thuyền và người hòa nhập với kích thước rộng của thiên nhiên, vũ trụ. Họ ra tận khơi xa, dò bụng biển, tìm luồng cá, dàn đan thế trận. Đoàn thuyền đánh cá như những chiến thuyền băng băng lướt sóng, thế bủa vây điệp trùng. Cuộc lao động là cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên. Ngư dân làm việc với lòng dũng cảm hăng say và trí tuệ nghề nghiệp, với tâm h ồn phơi phới của người làm chủ.
- Khổ bốn là cảnh giàu đẹp của biển cả. Biển đẹp và giàu điểm tô cho bức tranh lao động sắc màu rực rỡ, tươi vui. Cá không những nhiều mà còn ngon qua cách liệt kê: “Cá nhụ, cá chim cùng cá đé”, lại đẹp qua hình nảnh ẩn dụ “Cá song lấp lánh cá đen hồng”, và nhân hóa “Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe”. Các hình ảnh nhân hóa khiến cảnh biển sống động và lung linh, kì ảo: “Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long”.
- Khổ năm miêu tả cảnh gõ thuyền xua cá vào lưới. Người đánh cá làm việc giữa bao la biển trời và bao la tiếng hát. Thiên nhiên cũng góp nhạc với con người:
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Trăng in xuống nước, sóng xô bóng trăng dưới nước như gõ vào mạn thuyền, tạo nên nhịp trăng để xua cá vào lưới. Thiên nhiên và con người cùng nhịp lao động. Công việc đánh cá giữa biển đêm vốn nặng nhọc, vất vả đã thành bài ca lao động đầy niềm vui, vừa hùng tráng vừa mộng mơ. Con người chinh phục thiên nhiên nhưng vô cùng biết ơn mẹ thiên nhiên:
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự thuở nào
- Khổ sáu là cảnh kéo lưới, bắt cá. Sao mờ, đêm tàn, cũng là lúc kéo lưới kịp trời sáng. Cảnh kéo lưới, bắt cá được miêu tả vừa đầy chân thực vừa đầy lãng mạn:
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng
Cảnh lao động như một bức tranh sơn mài rực rỡ. Người kéo lưới là trung tâm của cảnh được khắc họa với nét tạo hình gân guốc, chắc khỏe, cơ bắp cuồn cuộn, kéo lên mẻ lưới trĩu nặng cá bạc cá vàng. Hình ảnh cá bạc cá vàng. Đó chính là thành quả lao động. Màu hồng của bình minh làm ấm bức tranh. Chữ “lóe” vừa gợi sự nhảy nhót của cá trong lưới vừa gợi ánh bình minh. Công việc lao động nhịp nhàng với sự vận hành của vũ trụ.
Khúc ca khải hoàn
Bài ca lao động khép lại thật hùng tráng với cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về trong chiến thắng lúc bình minh lên. Cảnh trở về đây khí thế và niềm vui:
Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt ca huy hoàng muôn dặm phơi
Câu đầu khổ cuối lặp lại câu cuối khổ đầu (chỉ khác chữ “với” thay cho “cùng”) như điệp khúc của khúc ca. Đoàn thuyền ra khơi trong tiếng hát, làm việc trong tiếng hát, trở về vẫn hát vang. Tiếng hát sau một đêm lao động vẫn hào hứng, mạnh mẽ. Bài thơ lặp lại nhiều lần chữ “hát” khiến nó thực sự là một bài ca. Bằng tiếng hát, nhà thơ đã khắc họa được cái hồn của không khí náo nức, phơi phới của những con người đang “Tập làm chủ tập làm người xây dựng – Dám vươn mình cai quản cả thiên nhiên” (Tố Hữu). Đoàn thuyền trở cề trong tư thế hào hùng, khẩn trương: chạy đua cùng mặt trời. Trong cuộc chạy đua này, con người đã chiến thắng. Khi mặt trời đội biển nhô màu thì đoàn thuyền đã về đến bến. Ánh mặt trời điểm tô cho thành quả lao động thêm rực rỡ, muôn mắt cá như muôn mặt trời tỏa ánh huy hoàng. Hình ảnh mặt trời đã mở ra tứ thơ và khép lại tứ thơ cũng là mặt trời nhưng ánh sáng của nó rực rỡ, lan tỏa mãi. Hình ảnh bình minh lên còn gợi lên những ý nghĩa ẩn dụ về một ngày mới, về tương lai tươi sáng của đất nước. Thuyền và người luôn nổi bật giữa vũ trụ lớn lao và niềm vui chiến thắng cũng mang tầm vóc lớn khiến khổ thơ kết mang vẻ đẹp huyền thoại, để lại nhiều dư ba.
Cảm nhận tác phẩm từ nhiều góc nhìn
Lời tác giả
“Sau cách mạng tháng Tám, tôi có nhiều dịp viết nhiều về vẻ đẹp sông nước khi ở vùng biển Hạ Long. Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của tôi được viết trong những tháng năm đất nước bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không khí lúc này thật vui, cuộc đời phấn khởi, nhà thơ cũng rất phấn khởi. Cả một vùng than, vùng biển đang hăng say lao động từ bình minh. Đoàn thuyền đánh cá lấy thời điểm xuất phát khác với lệ thường lúc mặt trời lặn và trở về trong ánh bình minh chói lọi. Khung cảnh trên biển khi mặt trời tắt không nặng nề tăm tối và mang vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật trong quy luật vận động tự nhiên của nó. Ở đây, tôi đã miêu tả tạo vật với cảm hứng vũ trụ. Nếu trước Cách mạng, Vũ trụ ca còn buồn thì bây giờ vui trước là tách biệt, xa cách với cuộc đời thì hôm nay lại gần gũi với con người. Bài thơ của tôi là một cuộc chạy đua giữa con người và thiên nhiên và con người đã chiến thắng. Tôi coi đây là một khúc tráng ca, ca ngợi con người trong lao động với tinh thần làm chủ, với niềm vui. Bài thư cũng là sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn. Chất hiện thực của khung cảnh lao động trên biển cả khi vùng biển đã về ta. Và chất lãng mạn thì cũng không cần phải tưởng tượng nhiều. Ở giữa cảnh trời biển cao rộng đó, với gió với trăng rồi bình minh và nắng hồng và đặc biệt sức người trong lao động đều thực sự mang tính chất lãng mạn, bay bổng. “Thuyền ta lái gió với buồm trăng”, “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”. Cảm hứng và hình ảnh ấy rất thích hợp với lao động trên biển. Tôi nghĩ rằng trong khung cảnh đó cũng không thể viết khác đi. Bài thơ kết thúc bằng một hình ảnh đẹp của một ngày mới khi đoàn thuyền đang trở về, các khoang thuyền đầy ắp cá. Mở đầu bài thơ, hình ảnh “mặt trời xuống biển” và kết thúc bài thơ là hình ảnh “mặt trời đội biển” nhô lên giữa sóng nước.
Thiên nhiên đã vận động theo một vòng quay của mặt trời và con người đã hoàn thành trách nhiệm của mình trong lao động. Không có gì vui bằng lao động có hiệu quả”.
(Nhà văn nói về tác phẩm, Sđd, tr. 126 – 128)
Ý kiến của Xuân Diệu
Lời thơ dõng dạc, điệu thơ cất lên tiếng hát, có cả tiếng “gõ thuyền”, hơi thơ vừa kim bởi không khí làm ăn phấn chấn, vừa cổ, cổ thể, cổ điển, những vần trắc đưa sức mạnh, sức dội cho bài thơ; từ thực tế nhưng không đóng khung trong thực tế mà xuất phát mà mơ mộng (…). Bài thư lặp đi lặp lại năm lần chữ “hát”, thực chất là một bài ca sảng khoái, phối hợp nhạc điệu với những động tác dồn dập, mở ra bằng mặt trời xuống biển, đóng lại bằng mặt trời đội biển mà lên; ở giữa là: cài then, sập cửa ra khơi, căng buồm, dệt biển, dàn đan thế trận, đêm thở sao lùa, kéo lưới săn tay, lưới xếp buồm lên, rồi “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” mà trở về.
(Xuân Diệu, Lời giới thiệu “Tuyển tập Huy Cận”, tập I, NXB Văn học, Hà Nội, 1986. Tr. 17 – 18)
Ý kiến của nhiều tác giả
“Nét nghệ thuật đặc sắc nổi bật của “Đoàn thuyền đánh cá” là hình ảnh thơ. Cả bài thơ được dệt bằng nhiều hình ảnh đẹp, đa dạng, rộng lớn và tinh tế với nhiều màu sắc. Hầu như ở khổ thơ nào cũng có những hình ảnh đặc sắc, mới mẻ. Nhà thơ đã sáng tạo hình ảnh từ sự quan sát, cảm nhận chính xác về sự vật kết hợp với sự liên tưởng và trí tưởng tượng mạnh bạo cùng với cảm hứng lãng mạn bay bổng. Phương thức nghệ thuật chủ yếu và phổ biến để xây dựng hình ảnh trong bài thơ này là so sánh và ẩn dụ, tượng trưng, thêm váo đó là lối phóng đại (ngoa dụ)”.
(Nhiều tác giả, Ôn tập văn học 9 NXB Giáo dục, 1999, tr.247)