Chữ người tử tù lúc đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng, in năm 1938 trên tạp chí Tao Đàn, sau đó được tuyển in trong tập truyện Vang bóng một thời và đổi tên thành Chữ người tử tù. Nhân vật chính trong Chữ người tử tù là Huấn Cao, một nhân vật điển hình trong các tác phẩm của Nguyễn Tuân trước Cách mạng. Đó là những người tài hoa, bất đắc chí. Họ không chỉ có tài mà còn có cái tâm trong sáng, mặc dù chí không thành nhưng tư thế vẫn hiên ngang, bất khuất.
» Tổng ôn kiến thức về tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam
» Tổng ôn kiến thức tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia – Vũ Trọng Phụng
» Tổng ôn kiến thức tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
» Tổng ôn kiến thức tác phẩm Đời thừa của nhà văn Nam Cao
Đoạn trích Chữ người tử tù là một câu chuyện về một viên quản ngục mến mộ tài năng, nhất là tài viết chữ Hán đẹp, nhưng éo le thay cho số phận lại là một người bị án tử hình(chém), trước cái tài, cái đẹp viên quản ngục đã bí mật đối đãi trân trọng bởi tử tù với mong ước xin được chữ quý. Làm mọi cách để xin chữ nhưng do Huấn Cao – tử tù tưởng viên quản ngục là người xấu nên đã không cho, cao trào đoạn trích dâng cao khi tử tù bị mang ra pháp trường thì ông lại được tử tù cho chữ và những lời khuyên đáng trân trọng trong cuộc sống.
Khái quát về tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm Chữ người tử tù
Tác giả Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân là nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại với những đóng góp xuất sắc trong cả hai giai đoạn trước và sau năm 1975. Nguyễn Tuân có phong cách nghệ thuật độc đáo trong đó nổi bật nét tài hoa – uyên bác , ông chủ yếu khám phá con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ.
Tác phẩm Chữ người tử tù
Chữ người tử tù là truyện ngắn xuất sắc nhất trong tập Vang bóng một thời. Tập truyện ngắn Vang bóng một thời (1940) gồm 11 truyện ngắn viết về những thú vui tao nhã, những vẻ đẹp xa xưa nay chỉ còn vang bóng, những giá trị văn hóa cổ truyền nay đã lạc lõng, lẻ loi.
Tìm hiểu tác phẩm Chữ người tử tù
Hình ảnh nhân vật quản ngục
Đây là nhân vật thể hiện rõ nét một trong những đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân, một nhà văn thường khám phá con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ. Tuy chỉ là nguời coi tù, nhưng khi hiện lên trong ngòi bút của Nguyễn Tuân, quản ngục lại được khám phá, miêu tả trong vẻ đẹp của con người có tâm hồn nghệ sĩ, là người biết yêu cái đẹp, biết trọng người tài.
Nhân vật quản ngục đã góp phần thể hiện sâu sắc tư tưởng của tác phẩm và quan điểm thẩm mĩ của nhà văn. Có thẻ nhận ra vẻ đẹp trong tâm hồn, nhân cách quản ngục qua diễn biến tâm tư cũng như cách ứng xử của quản ngục qua diễn biến tâm tư cũng như cách ứng xử của quản ngục trong cuộc kì ngộ với Huấn Cao.
Khi nghe tin Huấn Cao sắp đến trong đoàn tử tù, quản ngục đã thăm dò qua thơ lại một cách cẩn trọng, kín đáo nhưng vẫn không giấu nổi thái độ kính nể và sự ngưỡng mộ. Với cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp của một kẻ phản nghịch chống lại triều đình có tiếng là nguy hiểm. Có thể nhận thấy điều quan trọng đầu tiên trong ấn tượng của quản ngục về Huấn Cao là tài viết chữ. Sự chú ý đặc biệt đó đã hé mở phần nào con nguời của quản ngục khi ông ta quan tâm đến Huấn Cao không phải về quan điểm chính trị hay sự nguy hiểm mà trước hết là ở phương diện tài hoa. Có thể nhận ra trong chi tiết đầu tiên này nét phong cách của Nguyễn Tuân, một nhà văn luôn quan sát con người từ phương diện tài hoa.
Con người quản ngục đã hiện rõ hơn ở tâm tư, dáng vẻ của ông trong đêm đợi tù. Trong bóng đêm thăm thẳm, quạnh quẽ của nhà giam, quản ngục băn khoăn ngồi bóp thái dương, nghĩ ngợi, trăn trở. Trong cái nhìn tư lực của quản ngục, hình ảnh ngôi sao chính trị nhấp nháy trên bầu trời ít nhiều có mối liên hệ với tâm trạng thao thức chờ đợi của ông ta đêm nay. Có lẽ sự ngưỡng mộ, trọng nể của quản ngục với Huấn Cao đã nhập hình ảnh người tử tù vĩ đại sắp vĩnh biệt cuộc đời với ngôi sao Hôm sắp từ biệt vũ trụ.
Hình ảnh chiếc án thư vàng đã nhợt, son đã mờ, đĩa dầu sở trên cây đèn nến vơi lần mực dầu được nhắc lại tới hai lần cùng chi tiết miêu tả quản ngục đầu đã hoa râm, râu đã ngả màu gợi cảm giác xót xa; quản ngục đã trải qua gần hết cuộc đời ở nơi ngự trị cái xấu, cái ác. Công việc xấu xa độc ác đã giam cầm chính cuộc đời lương thiện của ông. Trong chốn tối tăm dơ dáy ấy, quản ngục luôn thấy mình cô độc, chia sẽ những tâm tư của ông đem nay chỉ là những đồ vật cũ kĩ, tàn tạ cùng ngọn đèn leo lét.
Hình ảnh những đường nhăn nheo của bộ mặt tư lự bây giờ đã biến mất hẳn càng cho thấy quản ngục luôn phải sống hai vai cho hai cuộc đời, ban ngày là một quản ngục mẫ cán với những sự vụ đáng chán, ban đêm lại trở về với cõi riêng của sự trăn trở, suy tư. Những hình ảnh so sánh về gương mặt như mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ, về một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hồn loạn, xô bồ; về những cái thuần khiết giữa một đống cặn bã… dã thể hiện cách đánh giá của nhà văn với con người quản ngục, một kẻ chọn nhầm nghề mà sự hiện diện của Huấn Cao sắp tới sẽ là dịp để quản ngục nhìn lại rõ lòng mình cùng tình cảnh đáng buồn của cuộc đời mình. Những xét đoán của quản ngục về tính cách thơ lại cho thấy sự sắc, từng trải của ông.
Quản ngục đã đánh giá nhân cách con người thông qua tình cảm của họ, lấy tiêu chí biết kính mến khí phách… biết tiếc, biết trọng người tài để phân định tốt xấu, vô tình hay hữu tình… Từ tiêu chí nhìn người mà thấy được chính con người của quản ngục, một thanh âm trong trẻo, thuần khiết giữa chốn xô bồ, cặn bã. Thực ra, đây cũng chính là tiêu chí nhìn người của Nguyễn Tuân- một nhà văn luôn quan sát, khám phá, miêu tả, khen chê con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ, luôn kính mến, trân trọng cái đẹp, người tài.
Nhân cách của quản ngục mỗi lúc một hiện rõ trong cảnh đón Huấn Cao sáng hôm sau. Ngay khi nhận tù, quản ngục đã thể hiện lòng kính nể, tuy cố giữ kín đáo mà cũng đã quá rõ trong ánh mắt hiền lành, trong sự biệt nhỡn với riêng Huấn Cao- thái độ khiến bọn lính lấy làm lạ, còn tử ngục thì ngạc nhiên. Con người thực của quản ngục đã vô tình bộc lộ bởi sự kính trọng không thể che giấu với Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã giúp người đọc nhận ra rằng tất cả những dặn dò sự vụ, những đe nẹt, thậm chí cả những mánh khóe hành hạ thường lệ với tù nhân có lẽ chỉ là tấm bình phong an toàn để quản ngục giữ mình cho yên ổn trong hoàn cảnh đề lao, nơi con người sống với nhau bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc.
Suốt nửa tháng trời Huấn Cao ở nhà lao, quản ngục chân thành, cung kính biệt đãi Huấn Cao. Nguyên nhân sự biệt đãi ấy xuất phát từ niềm kính trọng và yêu mến sâu sắc của quản ngục với tài năng và khí phách của Huấn Cao, với ý muốn giúp cho Huấn Cao đỡ cực trong những ngày cực cùng còn lại. Việc làm này có thể coi là một hành vi dũng cảm của viên tiểu lại giữ tù dám bất chấp luật pháp, làm đảo lộn trật tự hà khắc của nhà tù, biến kẻ tử tù thành thần tượng để cung phụng, tôn thờ.
Mặc dù Huấn Cao tỏ thái độ cao ngạo, khinh mạn, quản ngục vẫn sai người hàng ngày dâng rượu và thức nhắm, dáng vẻ khép nép, nói năng nhất mực cung kính, lễ phép và không lấy làm oán thù thái độ khinh bạc đến điều của ông Huấn. Có thể thấy quản ngục đã quá hiểu khí phách của con người chọc trời, khuấy nước, càng hiểu rằng trong con mắt của Huấn Cao, ông ta chỉ là một gã tiểu lại coi tù hèn mọn.
Quản ngục đã xếp thứ hạng người trong xã hội không phải bằng những tiêu chí thông thường của đẳng cấp hay cảnh ngộ mà bằng tài hoa, khí phách của họ; và với tiêu chí ấy, quản ngục nhận thức sâu sắc sự hèn kém của mình trước Huấn Cao – một người xa cách y quá nhiều. Nhưng thái độ khép nép, nhẫn nhục lại không hề hạ thấp con người quản ngục mà chỉ càng khiến người đọc hiểu thêm vẻ đẹp trong nhân phẩm của ông theo đúng cách ông nhìn nhận thơ lại; một kẻ biết kính mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết kính trọng người có tài, hẳn không phải kẻ xấu hay vô tình- thậm chí còn có thể coi đó là tư thế đệ thủ bái mai hoa, tư thế đáng kính trọng của những con người biết cúi đầu trước sự cao khiết của hoa mai, trước cái đẹp.
Càng hiểu tầm vóc và khí phách con người Huấn Cao cũng như thân phận hèn mọn của mình, quản ngục càng khổ tâm vì một nỗi niềm riêng chưa thể bày tỏ. Từ lâu, sở nguyện của quản ngục là được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết. Một gã tiểu lại giữ tù mà khao khát, mong mỏi được sở hữu, được chiêm ngưỡng chữ ông Huấn, lại coi đó là một báu vật trên đời. Sở thích và quan niệm ấy đã tách quản ngục ra khỏi môi trường sống tầm thường chốn đề lao dơ dáy, lọc lừa, thể hiện nhân cách trong sạch, cao quý của ông.
Nỗi mong mỏi xin được chữ ông Huấn, sự khổ tâm khi có Huấn Cao ở trong tay mà lại không đủ can đảm giáp lại mặt một người cách xa nhiều quá, cảm giác bồn chồn sợ hãi khi mai mốt ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ thì ân hận suốt đời mất… tất cả những nỗi niềm day dứt khổ sở ấy đã thể hiện sự trân trọng kính mến vô cùng của quản ngục với cái Đẹp và người Tài.
Khi được tin ông Huấn phải vào kinh chịu án tử hình, viên quan ngục tái nhợt người. Đó là nét mặt của một người đang sợ hãi và xúc động đến cực điểm, trước hết, đó là sự thương tiếc Huấn Cao, sau là nỗi tiếc hận đau đớn khi án tử hình sẽ mang cả Huấn Cao và những báu vật mà quản ngục khao khát cả cuộc đời vào cõi hư vô. Tình huống khắc nghiệt ấy đã đẩy quản ngục đến chỗ phải bỏ qua cả sự kín đáo và thận trọng để bộc lộ nỗi lòng, cũng là sở nguyện lớn lao, cao quí với thơ lại để rồi qua thơ lại, tấm lòng của quản ngục đã may mắn khiến Huấn Cao cảm động và đồng ý cho chữ. Với thái độ biệt nhỡn liên tài, quản ngục đã được Huấn Cao xếp vào hàng những người tri âm tri kỉ khi đồng ý cho chữ, được ông Huấn coi đó là một tấm lòng trong thiên hạ.
Trong đêm cuối cùng, khi ông Huấn đồng ý cho chữ, quản ngục được miêu tả trong tư thế khúm núm, và sau đó, khi nghe lời dạy cuối cùng của Huấn Cao, ngục quan cảm động vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào khóe miệng làm cho nghẹn ngào:” Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Trước hết, đây là tư thế dáng vẻ của một con người yêu mến cái đẹp, sẵn sàng để dược liều lĩnh để một lần chiêm ngưỡng và sở hữu cái Đẹp.
Nhưng qua vẻ xúc động mãnh liệt của quản ngục, còn có thể nhận ra sự cao quý đáng trân trọng trong tâm hồn ông; có được chữ của ông Huấn, cũng là báu vật quản ngục khao khát suốt đời, vậy mà người ta không thấy sự mãn nguyện, vui sướng, chỉ thấy nỗi đau xót, tiếc thương cho một nhân cách vĩ đại sắp vĩnh biệt cuộc đời; hóa ra cái mà quản ngục tôn thờ, ngưỡng mộ không chỉ cái Đẹp của nghệ thuật mà hơn hết là cái đẹp của Tài năng, Nhân cách và Thiên lương, những vẻ đẹp tập trung trong hình ảnh người tử từ vĩ đại.
Người đọc đã nhận ra ở quản ngục một nhân cách đáng kính trọng khi biết yêu quý, kính trọng người tài và cái Đẹp, lại càng trân trọng quản ngục hơn khi chứng kiến sự đau xót, tiếc nuối của ông trong đêm cuối vĩnh biệt Huấn Cao.
=> Thông qua những nét ngoại hình, dáng vẻ đày ấn tượng và đặc biệt là những chi tiết miêu tả nội tâm chân thực, nhân vật quản ngục đã được thể hiện với sở thích cao quý và thanh khiết, với lòng yêu mến cái Đẹp và kính trọng người Tài. Như vậy, tuy không phải là nhân vật chính với vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ, quản ngục vẫn là nhân vật được Nguyễn Tuân khám phá trong phương diện tài hoa nghệ sĩ bởi tấm lòng biệt nhỡn liên tài, là nhân vật thể hiện những quan niệm độc đáo, tích cực của nhà văn về con nguời và nghệ thuật.
Hình ảnh nhân vật Huấn Cao
Vẻ đẹp của tài hoa, khí phách, thiên lương.
Đây là nhân vật chính của truyện ngắn, cũng có thể coi là một nhân vật lý tưởng trong quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân khi trong Huấn Cao hội tụ tất cả những vẻ đẹp của tài hoa, khí phách, thiên lương.
Huấn Cao xuất hiện trong tác phẩm trước hết là một con người tài hoa và trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân khắc họa vẻ đẹp tài hoa của nhân vật này chủ yếu ở nghệ thuật thư pháp.
Tính chất tượng hình và những tầng ý nghĩa sâu xa, hàm xúc đã khiến người xưa đưa việc viết chữ nho lên thành một môn nghệ thuật, một thú chơi tao nhã, đó là nghệ thuật thư pháp. Vẻ đẹp của thư pháp toát ra từ hình thức, đường nét cho đến nội dung ý nghĩa của chữ. Người viết chữ không chỉ thể hiện tài hoa trong những nét chữ phượng múa, rồng bay mà chủ yếu gửi gắm, bộc lộ những hoài bão, tâm nguyện, khát vọng, ý chí của mình qua ý nghĩa chữ. Do vậy, chiêm ngưỡng Chữ chiêm ngưỡng vẻ đẹp của cả tài hoa, tâm hồn và khí phách.
Tài năng trong nghệ thuật thư pháp của Huấn Cao được Nguyễn Tuân thể hiện bằng nhiều cách. Đầu tiên là gián tiếp qua những lời đồn đại.
Huấn Cao chưa đến mà tên tuổi và danh tiếng của ông đã đén trước trong sự ngờ ngợ của quản ngục. Bình sinh ông mới viết có hai bộ tứ binh và một bức trung đường cho ba người bạn thân, vậy mà cả vùng tỉnh Sơn đã biết tiếng về cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp của ông. Chữ của Huấn Cao còn được miêu tả trong những lời ca ngợi và niềm mong mỏi khát khao của quản ngục:”Chữ ông Huấn đẹp lắm, vuông lắm… Có được chữ ông Huấn mà treo là có được một báu vật trên đời”. Vẻ đẹp trong đường nét và ý nghĩa của chữ còn được chính Huấn Cao khẳng định, đó là những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người.
Và cũng chính tài năng phi thường, xuất chúng của Huấn Cao đã lí giải được vì sao quản ngục lại kính trọng ông đến thế, thậm chí dám bất chấp nguy hiểm để biệt đãi, để thổ lộ nỗi lòng và cuối cùng, vứt bỏ sự thận trọng vốn có để vào phòng giam xin chữ tử tù, mong được lưu giữ bấu vật trên đời. Tài hoa của huấn Cao đã khiến cho chữ của ông thậm chí còn quí giá hơn cả mạng sống của con người!
Không chỉ tài hoa, Huấn Cao còn là con người có khí phách ngang tàng.
Theo công văn nhận tù, Huấn Cao là người đứng đầu bọn phản nghịch chống lại triều đình. Nhìn ở góc độ của nhân dân, Huấn Cao là đấng trượng phu trọc trời khuấy nước, là con người dũng cảm, ngang tàng dám đứng lên chiến đấu chống lại cả một thể chế xã hội tàn bạo, bất công.
Ngay khi vừa xuất hiện, Huấn Cao đã gây một ấn tượng mạnh cho người đọc bằng việc ông rỗ gông trước cửa nhà lao:” Huấn Cao, lạnh lùng, chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái”. Nét mặt lạnh lùng, cử chỉ mạnh mẽ, âm thanh của chiếc đầu thang gông đập xuống thềm đá, hình ảnh trận mưa rệp trên nền đa xanh… đó là những chi tiết đầy ấn tượng phác họa hình ảnh một vị thủ xướng ngạo ngược, ngang tàng. Thái độ ngạo nghễ ấy cho thấy Huấn Cao có thể làm bất cứ điều gì ông muốn mà không hề đếm xỉa đến phản ứng của ngục quan hay bọn lính.
Suốt nửa tháng ở nhà lao mới, trước sự cư xử kì lạ của quản ngục, dù có ngạc nhiên, Huấn Cao vẫn “thản nhiên nhận rượu thịt, coi đó là một việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh lúc chưa bị giam cầm”.Nhưng,nhận biệt đãi mà vẫn khinh bạc đến điều, Huấn Cao không quan tâm đến bất kì ẩn ý nào có thể giấu bên trong cách cư xử của quản ngục, cũng không bận tâm đến bất kì sự trả thù nào sau khi sỉ nhục y. Với Huấn Cao, dù là dụ dỗ, mua chuộc hay trả thù đều là vô nghĩa.
Bản lĩnh và khí phách của Huấn Cao đã thể hiện rõ nết trong cảnh cho chữ cuối cùng. Không chỉ tư thế đĩnh đạc, đàng hoàng, chỉ viêng việc Huấn Cao dành đêm sống cuối cùng của mình, bình thản viết chữ, cho chữ và khuyên bảo quản ngục, cứu vớt một con người đã cho thấy ông đứng trên mọi sự sống chết ở đời.
Tài hoa và khí phách khiến Huấn Cao được người đời kính phục, song có lẽ ông sẽ không thể được yêu quý ngưỡng mộ và nể trọng đến thế nếu không có một tấm lòng nhân hậu, không biết trọng nhân cách, nghĩa tình
Huấn Cao có tài viết chữ, nhưng ông đã khẳng định:” Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ:”. Với ông Huấn, mỗi bức tranh chữ là một tác phẩm nghệ thuật quí giá, và nghệ thuật chân chính bao giờ cũng là một thế giới cao khiết không có chỗ cho danh lợi, càng không chấp nhận sự hèn đớn. Đây cũng là quan điểm của chính Nguyễn Tuân, một nhà văn luôn đối lập nghệ thuật với tính vụ lợi. Lời khẳng định của Huấn Cao cho thấy tiết tháo trong sạch, kiên cường của một nhà nho tài hoa tài tử coi thường cả những cám dỗ vật chất lẫn sức mạnh cường quyền. Với Huấn Cao , viết chữ là một việc cao quý thiêng liêng không chỉ thể hiện tài hoa trong nghệ thuật thư pháp mà quan trọng hơn là bộc lộ và gửi gắm cái tâm, cái chí của mình; mà cái tâm và cái chí ấy chỉ có thể chia sẻ với những người tri âm tri kỉ, đó là lý do giải thích vì sao mà “tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít khi chịu cho chữ”. Thực ra, cái gọi là khoảnh trong tính cách của Huấn Cao chỉ càng thể hiện sự quý trọng với bạn bè, sự trân trọng với cái đẹp, cũng là với chính tài hoa, tâm chí của mình.
Quản ngục là viên tiểu lại giữ tù mà Huấn Cao từng khinh bạc đến điều, là kẻ đại diện cho cái trật tự xã hội xấu xa tàn ác mà Huấn Cao đã chiến đấu chống lại, nhưng quản ngục cũng là người khao khát có được báu vật trên đời là chữ của ông Huấn. Huấn Cao đã ngạc nhiên và bận tâm về sự biệt đãi kì lạ của quản ngục; tới khi biết được tấm lòng biệt nhỡn liên tài và sở thích cao quý của quản ngục thì Huấn Cao thực sự xúc động. Con người đứng trên mọi sự sống chết ở đời, con người thường coi thường cả vàng ngọc và quyền thế, con người luôn cao ngạo, ngang tàng ấy đã phải thốt lên lời than ân hận : “Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Như vậy, với Huấn Cao, điều quan trọng nhất trong cuộc đời là tấm lòng. Người biết trân trọng tấm lòng chắc chắn cũng phải có một tấm lòng. Vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao đã được nâng lên rất nhiều khi ông không chỉ có tài hoa, khí phách mà còn có lòng yêu cái thiện, trân trọng thiên lương của con người. Từ vị trí là kẻ thù, Huấn Cao đã coi quản ngục là người tri kỉ, đã nhập quản ngục vào hàng những người bạn thân của mình khi đồng ý cho chữ. Có thể thấy Huấn Cao không chỉ quí trọng cái đẹp, ông còn quý trọng những con người biết yêu, biết trọng cái đẹp. Chính tấm lòng của Huấn Cao đã đem đến cho ông một vẻ đẹp trọn vẹn, hoàn mĩ, vẻ đẹp của thiên lương cao quí. Qua nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã thể hiện một quan niệm thẩm mĩ tiến bộ; tâm gắn kiền với tài, cái đẹp gắn liền với cái thiện.
Cảnh cho chữ là cảnh tập trung rõ nết nhất các vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao về cả tài hoa, khí phách và thiên lương.
Cảnh cho chữ được Nguyễn Tuân khẳng định là một cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Cảnh tượng phi thường ấy đã được miêu tả bằng bút pháp tương phản và cảm hứng lãng mạn nhằm tôn vinh cái Đẹp, cái Thiện. Trong không khí trang trọng, cổ kính của cảnh cho chữ, vẻ đẹp tài hoa, khí phách và thiên lương của Huấn Cao đã được tập trung miêu tả sinh động, gợi cảm và tỏa sáng rực rỡ. Quả thật, đây là một cảnh tượng xưa nay chưa từng có bởi sự xuất hiện những yếu tố tương phản đầy ấn tượng.:
Thứ nhất là sự tương phản trong tình huống sáng tạo nghệ thuật
Bản chất của nghệ thuật là sự sáng tạo tự do, nay người nghệ sĩ tài hoa đang say mê tô từng nét chữ lại là một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng. Nghệ thuật giúp cho cái đẹp bất tử, nhưng người sáng tạo nghệ thuật lại là một tử tù đang ở đêm cuối cùng của cuộc đời, chỉ sớm mai, Người phải vào kinh lĩnh án tử hình. Nghịch lý xót xa ấy khiến cái đẹp trở nên mong manh, quý giá và giờ khắc tạo ra cái đẹp càng trang trọng, thiêng liêng. Đó cũng là nguyên nhân tạo ra tâm thế kì lạ của các nhân vật: hoàn thành việc cho chữ và xin chữ mà người cho không sung sướng, người không mãn nguyện, cả hai bên đều ngậm ngùi, buồn bã. Hình ảnh lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo sau khi Huấn Cao hoàn thành việc viết chữ gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc về sự lụi tắt, không chỉ của lửa đóm mà còn của một sinh mạng vĩ đại.
Tiếp nữa là sự tương phản xuất nhiện trong hoàn cảnh sáng tạo nghệ thuật.
Người nghệ sĩ thư pháp thường viết chữ ở những thư phòng thanh sạch, cao khiết, với bạch lạp, hương trầm, nay Huấn Cao cho chữ quản ngục trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Và chính trong sự tương phản này hàm chứa những tương phản khác mang ý nghĩa sâu sắc: khói tỏa như đám cháy nhà xua đi xú uế, ánh đước đỏ rực xua đi tối tăm, sự thanh khiết cao quý tỏa ra từ tấm lụa trắng tinh, từ mùi thom ở chậu mực xua đi những tầm thường, dơ dáy chốn tù ngục… Sự tuông phản thứ hai cho thấy ý chí phi thường của những con người yêu cái đẹp, dám vượt lên trên mọi sự nghiệt ngã chốn ngục tù để sáng tạo, chiêm ngưỡng và lưu giữ cái đẹp, những con người đã giúp cho cái đẹp ngự trị và tỏa sáng ngay chính nơi chốn của cái xấu, cái ác.
Sự tương phản sâu sắc nhất thể hiện trong vị thế của người tù và kẻ coi tù.
Trong đoạn văn miêu tả cảnh cho chữ, Nguyễn Tuân nhiều lần dùng hai chữ người tù để gọi Huấn Cao, có lẽ đây cũng là dụng ý khắc họa đậm nét hơn sự tương phản: người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng thì uy nghi, đàng hoàng, hiên ngang, dĩnh đạc viết chữ và dạy bảo khuyên nhủ những người có nhiệm vụ giữ tù như thơ lại thì run run bưng chậu mực, quản ngục khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng; thậm chí người tù sau khi viết xong còn đỡ viên quản ngục đứng thẳng người dậy còn ngục quan sau khi nhận được chữ và những lời khuyên bảo thì cảm động, vái người tù một vái.
Trước cái đẹp, cái thiện, mọi trật tự thông thường ở nhà tù đã bị đảo lộn; không còn người tù và kẻ coi tù; chỉ có Huấn Cao, người cho chữ người sáng tạo và ban phát cái đẹp và quản ngục, thiên lương, người xin chữ, người ngưỡng mộ và may mắn được tiếp nhận cái đẹp – và trật tự mới giữa họ được thiết lập theo tiêu chí của cái đẹp, cái thiện. Cái đẹp, cái thiện, cái cao cả đã chiến thắng và tỏa sáng, bóng tối dơ dáy của ngục tù đã nhường chỗ cho ánh sáng của cái đẹp cao khiết, của thiên lương trong sáng. Chi tiết Huấn Cao đỡ viên quản ngục đứng thẳng người dậy mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc: Huấn Cao không chỉ sáng tạo, ban phát cái đẹp mà thông qua sức mạnh kì diệu của cái đẹp, Huấn Cao còn cứu vớt cả một con người.
Hình ảnh ngục quan cảm động, vái người tù… nghẹn ngào: ” Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” là sự minh chứng rõ nét cho sức mạnh cảm hóa của cái đẹp, như sự khằng định của một nhà văn nước ngoài: Cái đẹp sẽ cứu thế giới. Hình ảnh bó đuốc tẩm dầu roị lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch cho thấy lòng yêu quý và trân trọng cái đẹp đã xóa đi mọi khoảng cách giữa những con người vốn là đối địch. Họ đã cùng nhau hình thành một thế giới thanh sạch cao cả, thế giới của cái đẹp, cái thiện, quay lưng lại thế giới của cái xấu, cái ác. Chi tiết ba người nhìn bức châm rồi lại nhìn nhau càng cho thấy họ đã thực sự trở thành những nguời tri âm bởi tình yêu cái đẹp và lòng hướng thiện.
Sự tương phản còn xuất hiện ngay trong những quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
Trước năm 1945, Nguyễn Tuân được coi là nhà văn có khuynh hướng tư tưởng duy mĩ và quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật; nhưng trong thực tế sáng tác, và trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân lại thể hiện quan niệm thẩm mĩ rất tiến bộ. Là nhà văn tài hoa, Nguyễn Tuân có sở trường và hứng thú đặc biệt khi miêu tả những vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ, nhưng trong cảnh cho chữ, Nguyễn Tuấn lại không hề miêu tả cụ thể đường nét của chữ, thậm chí cũng không nhắc đến nội dung bức châm. Phải chăng nhà văn đã kiềm chế hứng thú miêu tả, tôn vinh tài hoa để hướng tới khẳng định những giá trị cao quý hơn cả tài hoa?
Các nhân vật trong cảnh cho chữ cũng không bình luận về những dòng chữ đặc biệt cao quý trên tấm lụa bạch như cách thưởng thức một bức tranh chữ hay một tác phẩm nghệ thuật tài hoa. Căn cứ vào tâm thế các động kính cẩn của quản ngục và thơ lại, căn cứ vào chính những lời khuyên bảo của Huấn Cao với họ, có thể nhận ra nội dung bao trùm trong bức châm có lẽ không tách rời hai chữ thiên lương, bức châm đã được chiêm ngưỡng như một biểu tượng của cái đẹp, cái thiện, của lẽ sống làm người.
Cảnh cho chữ, xin chữ đã trở thành nơi hội tụ của tài hoa, của nhân tâm cùng sự tri âm tri kỉ trong hoàn cảnh ngục tù, quản ngục vốn chỉ có khát vọng xin chữ, vậy mà ông ta đã được nhiều hơn cả sự mong mỏi, Huấn Cao không chỉ cho chữ mà còn cho bài học làm người quý giá: trước khi đến với cái đẹp của nghệ thuật phải giữ trọn cái đẹp của thiên lương, cái đẹp không tách rời cái thiện. Việc Huấn Cao cảm động tấm lòng biệt nhỡn liên tài của quản ngục mà đồng ý cho chữ là biểu hiện gắn kết giữa cái tài và cái tâm, còn lời khuyên của Huấn Cao với quản ngục cho thấy quan điểm của Nguyễn Tuân về sự thống nhất giữ cái đẹp và cái thiện, không thể chiêm ngưỡng cái đẹp ở nơi ngự trị của cái ác, không thể hướng tới cái đẹp cao cả ở chốn mà thiên lương khó giữ cho lành vững.
Kết luận
Truyện ngắn chữ người tử tù đã thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật của tác giả Vang bóng một thời từ việc xây dựng hình tượng nhân vật tài hoa nghệ sĩ đến việc phát huy cao nhất bút pháp tương phản trong miêu tả, từ nghệ thuật xây dựng tình huống đến tạo không khí cổ xưa cho tác phẩm, từ việc sử dụng ngôn ngữ giàu tính tạo hình, có nhịp điệu đến việc tô đậm những tính cách phi thường, xuất chúng ấn tượng sâu sắc cho người đọc . Ca đẹp vẻ đẹp của Huấn Cao, con người hội tụ cả tài hoa, khí phách và thiên lương, truyện ngắn vừa thể hiện quan niệm thẩm mĩ tiến bộ của Nguyễn Tuân vừa ngằm lên án một xã hội tàn bạo không dung nạp, chấp nhận cái đẹp, người tài. Đó cũng là cách để nhà văn thể hiện kín đáo bày tỏ sự bất bình với trật tự xã hội đương thời.